Ngành y tế luôn là một môi trường đặc thù, nơi năng lực chuyên môn và y đức được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, khi nhìn sâu vào cách thức vận hành và phát triển nguồn nhân lực hiện nay, chúng ta dễ dàng nhận thấy những nghịch lý đang cản trở sự vươn lên của các bệnh viện và cả hệ thống. Dưới đây là 6 nghịch lý lớn về con người trong y tế và những điểm nghẽn trong tư duy cần được thay đổi để hướng tới sự phát triển bền vững.
1. Nghịch lý giữa “Siêu sao chuyên môn” và “Nhà quản lý”
Giỏi chuyên môn thường sẽ được kính trọng và dễ làm lãnh đạo bệnh viện vì nói người khác sẽ nghe. Nhưng càng đam mê chuyên môn thì càng không có thời gian làm quản lý. Kết cuộc là bệnh viện đi xuống dù “ai cũng phục”, vì lãnh đạo có thời gian để làm gì đâu mà bệnh viện đi lên.
Tư duy cần thay đổi: (1) Đi làm việc không phải là thuần phục cá nhân ai đó, mà đi làm là vì tổ chức, vì sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức. Không phải đi kết băng nhóm, phe cánh. (2) Cần phân biệt người giỏi chuyên môn và người giỏi quản lý, người vun vén cho cá nhân và người hết lòng vì tổ chức. Chưa chắc người giỏi chuyên môn là vì tổ chức, nhưng người tập trung vào quản lý chắc chắn sẽ đưa tổ chức đi lên bền vững, vì tổ chức bền vững là tổ chức phát triển không lệ thuộc siêu sao.
2. Nghịch lý giữa Trải nghiệm lâm sàng, Thu nhập và Lạm phát bằng cấp
Môi trường lâm sàng cho kiến thức, nhưng chưa chắc cho thu nhập cao. Tương tự, môi trường thu nhập cao chưa chắc tích lũy tốt kinh nghiệm lâm sàng. Trước đây, quy luật ngầm là phải hy sinh thanh xuân, “chịu đấm ăn xôi” để tích lũy kinh nghiệm lâm sàng, đợi đến khi tay nghề vững vàng mới bắt đầu kiếm tiền. Thế hệ ngày nay không chịu điều đó, họ muốn có bằng cấp là phải được trả giá cao ngay vì xem việc học là tiền đầu tư hơn là thực học. Điều này dẫn đến tình trạng bằng cấp cao nhưng không biết khám bệnh, không biết phẫu thuật và càng không có kinh nghiệm lâm sàng.
Tư duy cần thay đổi: Cần minh bạch lộ trình cho tích lũy kinh nghiệm lâm sàng, và lộ trình thu nhập cần rõ ràng, rút ngắn hơn. Môi trường bệnh viện mới thật sự là môi trường học, và phải tạo điều kiện cho người chịu học và học nhanh. Sự bùng nổ, lạm phát bằng cấp trong ngành y không song hành với năng lực khám chữa bệnh là một tiêu cực cần phải xem lại, coi có phải luật lệ đang bị thao túng bởi nhóm tổ chức có giấy phép đào tạo hay không?
3. Nghịch lý của Chứng chỉ hành nghề quốc gia và Trách nhiệm đào tạo
Kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề bác sĩ quốc gia thoạt nghe thì rất chuẩn về chuẩn hóa năng lực, với ý niệm một khi đã được công nhận là bác sĩ thì năng lực phải ở một mức sàn nào đó. Tuy nhiên, coi chừng, nó sẽ dẫn đến việc đào tạo cẩu thả hơn ở các tổ chức có giấy phép đào tạo. Vì nhiệm vụ có chứng chỉ được đẩy hết về phía người học, chất lượng đào tạo sẽ suy giảm nghiêm trọng hơn và vô trách nhiệm hơn. Chưa kể, để thiết kế một kỳ thi đo lường hết năng lực tích lũy trong 6 năm thì chắc phải thi suốt 3 ngày 3 đêm, mang chiếu, nấu cơm theo như thi trạng nguyên ngày xưa. Nó tạo thêm áp lực loét dạ dày cho thí sinh vì công sức 6 năm đem quyết định trong vỏn vẹn 1 ngày. Không đậu coi như đói, ôm nợ vì tiền học y ngày nay là cả một gia tài.
Tư duy cần thay đổi: Uy tín tấm bằng của một trường cần được đem ra cạnh tranh. Có cạnh tranh mới có hủy diệt đơn vị yếu kém để xã hội đi lên. Tổ chức nào đào tạo ra mà người ta nhìn cái bằng không dám tuyển thì tự bị hủy diệt, không cần nhà nước đóng cửa. Người làm hoạch định chính sách cần được trang bị kiến thức về khoa học hành vi và công cụ mô phỏng tác động, chứ không phải mình nghĩ hay thì sau này nó sẽ hay, coi chừng kết quả đảo ngược hoàn toàn.
4. Nghịch lý trong quan hệ “Sư – Đồ”: Từ tình cảm cá nhân đến thỏa thuận ngầm
Thời bao cấp, quan hệ sư đồ thật trong sáng và hoàn toàn dựa vào tình cảm cá nhân. Nhưng trong bối cảnh hiện tại, khi mà nắm giữ “bí kíp” đồng nghĩa với việc kiếm được nhiều tiền hơn, thì quan hệ sư phụ – đệ tử dần trở thành một quan hệ đổi chác, và hầu hết đều biến tướng thành những thỏa thuận ngầm rất nguy hiểm.
Tư duy cần thay đổi: Kèm cặp, dẫn dắt và huấn luyện ngay trên công việc là một phần cốt lõi của những công việc nặng về thực hành. Cần trả thù lao cho người dạy một cách xứng đáng, thậm chí nhiều hơn cả việc để họ đích thân thực hiện. Cần tạo văn hóa một vị trí lúc nào cũng phải có 2-3 người dự phòng thay thế. Ai không chịu chấp nhận văn hóa này thì nên mạnh dạn mời ra khỏi tổ chức, bởi nó chỉ phù hợp với những tổ chức “ăn xổi”, kiếm tiền nhanh rồi rút.
5. Nghịch lý của “Lãnh đạo trung tâm” và cơn nghiện quyền lực
Phàm ở đời, ai cũng thích mình là trung tâm của vũ trụ. Thoạt đầu, mô hình này có thể dễ cho công tác quản trị vì nó tập trung, nhất quán và triển khai nhanh. Nhưng nó sẽ làm người ta nghiện, không gì nghiện bằng nghiện quyền lực. Và khi bị nghiện, nó có thể đánh đổi cả một tổ chức. Vấn đề là con người không ai khỏe mãi, sống mãi. Đến khi kiệt sức, run rẩy không còn làm gì nổi thì tự khắc sẽ hết nghiện, nhưng đã quá muộn vì tổ chức lấy 1 cá nhân làm trung tâm thì khó có ai thay thế nổi, quá trình chuyển giao quyền lực hầu hết là thất bại vì xung đột sẽ gia tăng do mất đi người làm trung tâm, và tổ chức sẽ sụp đổ.
Tư duy cần thay đổi: Tổ chức phát triển bền vững phải cai được cơn nghiện quyền lực của lãnh đạo cấp cao. Nó đòi hỏi lộ trình ít nhất 10 năm để chuyển dịch từ lãnh đạo lấy 1 người làm trung tâm thành lãnh đạo một nhóm trung tâm. Không hề dễ tí nào.
6. Nghịch lý về công sức, sự tưởng thưởng và càng thương bệnh nhân càng nghèo.
Nghịch lý bị than vãn nhiều nhất: ngành y học cực, vất vả nhưng không được trả công xứng đáng, không bù đắp được công sức học tập. Càng thương bệnh nhân càng nghèo, muốn giàu phải ác. Các sáng kiến, phát minh trong y tế không được ghi nhận và trả công xứng đáng. Dẫn đến ai nghĩ ra gì hay sẽ giấu nghề, để tạo độc quyền để tạo uy thế “phải có tui mới được”.
Tư duy cần thay đổi: Trả công không phải dựa trên sức lực mà dựa trên trí lực. Trí tuệ con người mới tạo ra giá trị của y khoa chứ không phải khiêng vác. Bác sĩ có thể thành tỷ phú không? Được chứ! Nếu anh phát minh ra một kỹ thuật mổ và anh chuyển giao, ai mổ theo phương pháp đó thì phải xin phép hoặc trả phí. Phải công nhận y tế là một nền kinh tế tri thức. Hãy quên đi chuyện bác sĩ muốn sống với nghề thì không thể giàu. Phải nghĩ ra được nhiều cách điều trị mang lại sự sống, giảm đau đớn cho con người thì sẽ cực giàu, và xã hội sẽ điều tiết để trả công xứng đáng cho nó. Đó mới là một xã hội tiến bộ.
>>> Lời kết
Suy cho cùng, để tháo gỡ tận gốc những nghịch lý trên, bước đi đầu tiên và mang tính quyết định là phải chính thức công nhận y tế là một nền kinh tế tri thức. Ở đó, chất xám, sự tận hiến và năng lực chuyên môn phải được lượng giá, tôn trọng và tưởng thưởng xứng đáng.
Đồng thời, hệ thống cần một sự thay đổi sâu sắc về tư duy hoạch định: phải công nhận quản trị là một khoa học, và xây dựng chính sách cũng là một môn khoa học thực thụ, chứ hoàn toàn không phải là những câu chuyện cảm tính hay lời bàn luận ngoài vỉa hè cho vui.
Chính vì là khoa học, những người làm công tác hoạch định chính sách cần phải được trang bị nền tảng bài bản về khoa học hành vi. Bất kỳ một chính sách nào trước khi thực thi đều cần được đưa vào các công cụ mô phỏng tác động, đánh giá cẩn trọng sự được – mất, và cân nhắc kỹ lưỡng các mặt lợi/hại dựa trên dữ liệu thực tế. Một chính sách vĩ mô tác động đến hàng vạn nhân sự và hàng triệu người bệnh không thể chỉ đơn thuần là kết quả của việc một nhóm người ngồi lại với nhau, gật đầu đồng thuận và biểu quyết là ban hành.
Chỉ khi vận hành bằng tư duy khoa học và thể chế hóa được giá trị tri thức, ngành y tế mới thực sự kiến tạo được một bệ phóng vững chắc, không ngừng cải thiện để hướng tới sự phát triển bền vững cho cả tổ chức lẫn những người đang cống hiến cho nghề.


