Sông ngòi không chỉ kiến tạo nên hình hài của một vùng địa lý mà còn là huyết mạch tự nhiên nuôi dưỡng sự sống qua hàng ngàn năm. Trong dòng chảy của tiến trình đô thị hóa, chúng ta đang phải chứng kiến một sự đánh đổi vô cùng tàn nhẫn khi những dải đất ven sông màu mỡ nhất dần bị băm nát và chôn vùi dưới các khối bê tông vô hồn. Sự chuyển dịch này không đơn thuần là quá trình phát triển hạ tầng, mà thực chất là một cuộc tước đoạt quy mô lớn. Những nền tảng sinh tồn quý giá của dân tộc đang bị thao túng, biến thành công cụ bơm thổi giá trị để phục vụ cho các dự án bất động sản, bỏ lại đằng sau vô vàn hệ lụy khôn lường cho cả kinh tế, môi trường và xã hội.
Dưới góc độ khoa học thổ nhưỡng, đất đai tuyệt đối không phải là một mặt phẳng vô tri để người ta dễ dàng cắm mốc và san lấp. Đó là một cỗ máy sinh thái vĩ đại mà tạo hóa đã phải mất hàng triệu năm để đẽo gọt. Các nghiên cứu từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc đã khẳng định một sự thật chấn động rằng, tự nhiên cần tới trọn vẹn một thiên niên kỷ chỉ để kiến tạo nên vỏn vẹn một centimet đất mặt có đủ dưỡng chất cho cây trồng nảy mầm. Riêng đất phù sa ven sông lại càng là một vốn quý vô giá, được kết tinh từ trầm tích, khoáng chất và mạng lưới vi sinh vật phong phú qua hàng vạn mùa lũ bồi đắp. Thế nhưng, sự kỳ vĩ ấy của tự nhiên lại đang bị xóa sổ hoàn toàn chỉ trong vài tháng thi công cơ giới. Cơ quan Môi trường Châu Âu gọi việc đổ bê tông lên bề mặt tự nhiên là hiện tượng “niêm phong đất”, một bản án tử hình sinh thái không thể đảo ngược. Khi lớp móng của các dự án được đổ xuống, toàn bộ khả năng thẩm thấu nước, khả năng lọc tự nhiên và chức năng sản xuất lương thực của mảnh đất đó vĩnh viễn bị triệt tiêu, chỉ còn lại những hoang mạc xi măng chết khô.
Sự tàn phá này không chỉ dừng lại ở thước đo sinh học mà còn chạm đến tầng sâu nhất của trầm tích văn hóa. Lịch sử ngàn năm của dân tộc bám rễ sâu sắc vào nền văn minh sông nước, nơi mỗi khúc sông, bến nước, bãi bồi đều là không gian sinh hoạt chung của cả một cộng đồng. Đó là nơi giao mầm cho phong tục, tập quán và lưu giữ hồn cốt dân tộc qua vô vàn thế hệ. Khi những dải đất ven sông ấy bị băm nát để quy hoạch thành các khu đô thị khép kín, những bản sắc ngàn năm bỗng chốc bị bứng rễ vĩnh viễn. Không gian thiên nhiên vốn dĩ thuộc về cộng đồng nay bị rào chắn lại, quyền tiếp cận cảnh quan của người dân bản địa bị tước đoạt trắng trợn để phục vụ cho đặc quyền ngắm cảnh, hưởng thụ của một nhóm thiểu số có tiền. Nhìn sâu xa hơn, đây thực chất là hành vi tư nhân hóa tàn nhẫn một tài sản văn hóa chung vô giá của xã hội.
Chát đắng hơn cả là nghịch lý đang diễn ra trên chính thị trường được gọi là “công nghiệp nhà ở” này. Bất động sản đúng nghĩa phải là lĩnh vực kiến tạo không gian sống, cung cấp nền tảng an sinh vững chắc cho con người. Thế nhưng, sự vận hành của thị trường hiện nay lại bộc lộ những điểm mù phi lý tột cùng khi rất nhiều dự án nhà đất xây dựng hoành tráng rồi lại bỏ hoang với tỷ lệ lên tới bảy mươi đến tám mươi phần trăm. Chức năng cốt lõi của những căn nhà này đã bị tước bỏ hoàn toàn, biến chúng thành những món hàng tài chính vô tri để giới đầu cơ găm giữ, lướt sóng hòng thổi giá sang tay. Trong khi đó, những người lao động miệt mài tạo ra của cải thực sự cho đất nước lại phải chật vật cả đời trong những khu trọ chật hẹp, vĩnh viễn không thể chạm tay tới giấc mơ an cư. Chúng ta đang lãng phí một cách xót xa nguồn tài nguyên quý giá nhất của quốc gia chỉ để dung túng cho lòng tham và sự trục lợi của một bộ phận nhỏ trong xã hội.
Một quốc gia thịnh vượng không thể xây dựng tương lai trên những khối bê tông bỏ hoang hay tự huyễn hoặc sự phát triển bằng những cơn sốt đất ảo. Sức mạnh thực sự của một nền kinh tế phải bám rễ vào sản xuất thực chất, vào công nghệ kỹ thuật và nền nông nghiệp tri thức, chứ không thể vận hành lỏng lẻo bằng trò chơi vơ vét chênh lệch địa tô. Việc lên tiếng bảo vệ từng tấc đất nông nghiệp, từng dải đất ven sông không phải là tư duy bảo thủ cản bước đô thị hóa, mà chính là sự thức tỉnh sống còn để bảo vệ lẽ phải. Đó là hành động bảo vệ nền tảng sinh tồn ngàn năm, giữ gìn bầu khí quyển, điều hòa nguồn nước và quan trọng nhất là để lại vẹn nguyên cội nguồn sống cho những thế hệ mai sau. Đừng để con cháu chúng ta phải đối mặt với một tương lai cạn kiệt tài nguyên, gánh trên vai một món nợ sinh thái không bao giờ có khả năng bù đắp chỉ vì sự ích kỷ của ngày hôm nay.


